Nội dung

Giải phẫu học: bệnh lý dương vật

Dương vật có thể bị các dị tật bẩm sinh, viêm và u, trong đó 2 loại sau là quan trọng nhất.

Dị tật bẩm sinh

Hẹp thắt da qui đầu

Là tình trạng lỗ da qui đầu quá nhỏ làm da qui đầu không thể tuột ra khỏi đầu dương vật được. Tình trạng này cản trở việc làm vệ sinh cá nhân, các dịch tiết và cặn nước tiểu dễ bị tích tụ, tạo thuận lợi cho nhiễm trùng và ung thư dương vật.

Tật lỗ tiểu trên và dưới

Do dị dạng rãnh niệu đạo nguyên thủy, đưa đến tình trạng lỗ tiểu mở ra ở mặt trên hoặc mặt dưới dương vật. Dị tật này thường thấy phối hợp với chứng tinh hoàn ẩn và các dị tật khác của đường tiểu, có thể gây tắc nghẽn và nhiễm trùng đường tiểu hoặc chứng vô sinh.

Viêm

Dương vật có thể bị viêm do nhiều tác nhân khác nhau, chủ yếu trong các bệnh hoa liễu như giang mai, lậu, hạ cam mềm, herpes sinh dục. Ngoài ra, chứng hẹp thắt da qui đầu có thể tạo thuận lợi cho tình trạng viêm dương vật do các vi khuẩn sinh mủ hoặc nấm.

U

U dương vật nói chung ít gặp, thường gặp nhất là condylôm và carcinôm tế bào gai.

Condylôm sùi:

Là 1 u lành do HPV gây ra, thường là HPV týp 6 và 11.

Đại thể: u có dạng sùi như bông cải, đường kính vài milimét; thường thấy ở rãnh vòng đầu dương vật và mặt trong da qui đầu.

Vi thể: gồm các nhú biểu bì tăng sản tương tự u nhú da, chỉ khác biệt ở chỗ có thêm sự hiện diện của các tế bào rỗng (Koilocyte) trong các lớp phía trên của biểu bì. (Hình 13)

Hình 13 : Đại thể condylôm sùi (A) ; vi thể tương tự u nhú da (B) nhưng có thêm tế bào rỗng (mũi tên, C)

Condylôm khổng lồ:

Còn gọi là u Buschké – Lowenstein, cũng do HPV týp 6 và 11 gây ra. Đại thể: u cũng có dạng sùi như bông cải nhưng kích thước lớn vài cm.

Vi thể: tương tự condylôm sùi nhưng khác ở chỗ biểu mô tăng sản có thể xâm nhập sâu xuống mô đệm.

Condylôm khổng lồ dễ tái phát sau cắt bỏ nhưng không bao giờ cho di căn. Như vậy, condylôm khổng lồ có vị trí trung gian giữa condylôm sùi hoàn toàn lành tính và carcinôm tế bào gai dương vật hoàn toàn ác tính.

Carcinôm tế bào gai tại chỗ (squamous cell carcinoma in situ)

Carcinôm tại chổ của dương vật gồm có 2 loại:

Bệnh Bowen (Bowen’s disease):

Đại thể: tổn thương cò dạng 1 mảng dầy mầu đỏ, đóng vảy nhẹ, giới hạn rõ, thường thấy ở qui đầu dương vật hoặc da qui đầu.

Vi thể: biểu bì gồm các tế bào dị dạng, nhân đậm mầu, có hiện tượng mất phân cực và tăng tỉ lệ phân bào; tuy nhiên màng đáy vẫn còn nguyên vẹn.

Bệnh Hồng sản Quyerat (erythroplasia of Queyrat):

Đại thể: tổn thương là các mảng mầu đỏ bóng, giới hạn không rõ, thường gặp ở đầu dương vật hoặc da qui đầu.

Vi thể: cũng có dị dạng tế bào và mất phân cực, tương tự như bệnh Bowen. (Hình 14)

Hình 14 : Hồng sản Queyrat (A), Bệnh Bowen (B), trên vi thể là carcinôm tế bào gai tại chỗ (C)

Bệnh Bowen và bệnh hồng sản Queyrat thường xảy ra ở người lớn tuổi, trên vi thể đều là carcinôm tại chỗ, chỉ khác nhau chút ít về đại thể. Vì vậy hiện nay, 2 bệnh được xem là một với tiên lượng và cách điều trị giống nhau. Tùy mức độ bệnh, có thể điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau như bôi fluorouracil tại chỗ, đốt điện hoặc phẫu thuật.

Carcinôm tế bào gai dương vật

Chiếm 3,4 % ung thư của giới nam theo ghi nhận của Bệnh viện Ung bướu Tp.HCM (2008), trong đó hơn 90 % số bệnh nhân có tiền căn hẹp thắt da qui đầu hoặc có da qui đầu quá dài. Tuổi thường gặp là 40-70 tuổi.

Hiện nay, mối liên quan giữa carcinôm tế bào gai dương vật với tình trạng hẹp thắt da qui đầu và nhiễm HPV đã được chứng minh :

Ung thư dương vật hiếm gặp ở dân tộc Do Thái, vốn có phong tục cắt da qui đầu cho trẻ trai ngay từ khi mới sinh. Tình trạng hẹp da qui đầu làm tăng nguy cơ ung thư dương vật trước đây được cho là do vệ sinh kém và do các tác nhân sinh ung chứa trong chất cặn của bao qui đầu (chất smegma); tuy nhiên hiện nay người ta cho rằng tác động bảo vệ của việc cắt da qui đầu là do giúp tránh nhiễm HPV.

HPV týp 16 và 18 có thể có liên quan đến quá trình sinh ung; bởi vì các nghiên cứu cho thấy từ 20-60% các trường hợp ung thư dương vật bị nhiễm 2 týp virus này.

Hình thái tổn thương:

Đại thể: tổn thương có dạng sùi hoặc loét, thường gặp ở đầu dương vật hoặc rãnh qui đầu dương vật. Vùng sùi loét lan rộng dần, có thể phá hủy toàn bộ đầu dương vật hoặc một phần thân dương vật.

Vi thể: tương tự carcinôm tế bào gai của da, thường có độ biệt hoá tốt với sự thành lập các cầu sừng nằm giữa các đám tế bào gai ung thư. (Hình 15)

Hình 15 : Carcinôm tế bào gai ở rãnh qui đầu (A) ; trên vi thể là carcinôm tế bào gai biệt hóa tốt.

Liên hệ lâm sàng: carcinôm tế bào gai dương vật có diễn tiến chậm tại chỗ trong nhiều năm, sau đó mới cho di căn vào hạch bẹn và hạch chậu 2 bên. Di căn xa chỉ xảy ra trong giai đoạn muộn. Tiên lượng tốt nếu bệnh nhân được điều trị ở giai đoạn chưa có di căn hạch bẹn với tỉ lệ sống thêm 5 năm là 66%.